Bộ Luật Lao động năm 2019 với nhiều quy định mới về trợ cấp thôi việc sẽ chính thức có hiệu lực từ năm 2021.

Theo đó, có 3 thay đổi qua trọng về trợ cấp thôi việc như sau:

1. Thêm trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc

Tại Điều 46 Bộ Luật Lao động 2019 quy định rõ các trường hợp không được trợ cấp thôi việc gồm:

- Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên.

- Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu.

- Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải (như quy định hiện nay).

2. Bổ sung trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc

Điều 46 của Bộ Luật Lao động 2019 cũng bổ sung thêm một số trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc dưới dây:

- Người lao động hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp phải gia hạn cho người lao động là thành viên Ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không được trả tự do, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; không phải là cá nhân thì chấm dứt hoạt động hoặc bị thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền của người đại diện theo pháp luật.

Bên cạnh bổ sung trường hợp mới, Bộ Luật Lao động 2019 cũng loại bỏ một số đối tượng được hưởng trợ cấp thôi việc. Đó là người lao động bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

3. Bổ sung thêm thời gian làm việc để tính trợ cấp thất nghiệp

Theo quy định mới của Bộ Luật Lao động 2019, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Ngoài ra, tiền lương để tính trợ cấp thôi việc sẽ là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

TÚ QUỲNH (BÁO LAO ĐỘNG)